5.1. Khởi động trình cài đặt trên 64-bit PC

Cảnh báo

Hệ thống của bạn cũng có hệ điều hành khác bạn muốn giữ lại (khởi động đôi) thì bạn nên kiểm tra xem mỗi hệ điều hành đã được tắt hoàn toàn trước khi bạn khởi chạy tiến trình cài đặt. Cài đặt hệ điều hành trong khi hệ điều hành khác ngủ động thì có thể gây ra dữ liệu bị mất hay bị hỏng trong hệ đó. (Sau đó thì có thể gặp lỗi khi khởi động lại.)

Ghi chú

Để tìm thông tin thêm về cách khởi động bộ cài đặt đồ họa, xem Phần 5.1.8, “The Graphical Installer”.

5.1.1. Khởi động từ đĩa CD-ROM

Phương pháp dễ nhất cho phần lớn các người là sử dụng một bộ đĩa CD Debian. Nếu bạn có một bộ đĩa CD như vậy, và nếu máy tính của bạn có hỗ trợ chức năng khởi động trực tiếp từ đĩa CD, hay quá ! Đơn giản hãy cấu hình hệ thống để khởi động từ đĩa CD, như được diễn tả trong Phần 3.6.2, “Chọn thiết bị khởi động”, nạp đĩa CD, khởi động lại, và đi đến chương kế tiếp.

Ghi chú rằng một số ổ đĩa CD riêng có thể cần thiết trình điều khiển đặc biệt, vì vậy không thể được truy cập trong giao đoạn cài đặt ở đầu. Nếu phương pháp chuẩn khởi động từ đĩa CD không thích hợp với phần cứng của bạn, hãy xem lại chương này và đọc về hạt nhân xen kẽ và phương pháp cài đặt có thể là thích hợp hơn.

Even if you cannot boot from CD-ROM, you can probably install the Debian system components and any packages you want from CD-ROM. Simply boot using a different medium and when it's time to install the operating system, base system, and any additional packages, point the installation system at the CD-ROM drive.

Nếu bạn gặp khó khăn trong việc khởi động, xem Phần 5.4, “Giải đáp thắc mắc trong tiến trình cài đặt”.

5.1.2. Khởi động từ Windows

Để bắt đầu trình cài đặt từ Windows, bạn có thể

Nếu bạn sử dụng một đĩa CD/DVD cài đặt, một chương trình cài đặt sẵn nên tự động khởi chạy khi bạn nạp đĩa. Trong trường hợp Windows không phải tự động khởi chạy nó, hoặc nếu bạn sử dụng một thanh USB, bạn cũng có thể khởi chạy nó bằng tay, bằng cách truy cập đến thiết bị, rồi thực hiện câu lệnh setup.exe.

Một khi khởi chạy chương trình đó, vài câu mở đầu sẽ được hỏi để chuẩn bị hệ thống để khởi động lại vào tiến trình cài đặt Debian GNU/Linux.

5.1.3. Booting from DOS using loadlin

Khởi động vào DOS (không phải Windows). Chẳng hạn, bạn có thể khởi động từ một đĩa phục hồi hay địa chẩn đoán.

Nếu bạn có truy cập đến đĩa CD cài đặt thì chuyển đổi ổ hiện thời sang ổ đĩa CD-ROM, v.d.

d:

không thì kiểm tra lại bạn đã chuẩn bị đĩa cứng như diễn tả trong Phần 4.4.2, “Hard disk installer booting from DOS using loadlin, sau đó chuyển đổi ổ hiện thời nếu cần thiết.

Vào thư mục con của mủi vị đã chọn, v.d.

cd \install.amd

Thích sử dụng trình cài đặt đồ họa hơn thì vào thư mục con gtk.

cd gtk

Sau đó, thực hiện tập tin install.bat. Việc này nạp hạt nhân và khởi chạy hệ thống cài đặt.

5.1.4. Booting from Linux using LILO or GRUB

Để khởi động trình cài đặt từ đĩa cứng, trước tiên bạn cần phải tải về và để các tập tin cần thiết, như được diễn tả trong Phần 4.4, “Chuẩn bị tập tin để khởi động đĩa cứng”.

Nếu bạn định dùng đĩa cứng chỉ để khởi động, rồi tải về mọi thứ qua mạng, bạn nên tải về tập tin netboot/debian-installer/amd64/initrd.gz và hạt nhân tương ứng netboot/debian-installer/amd64/linux. Việc này sẽ cho bạn khả năng phân vùng lại đĩa cứng nơi bạn khởi động bộ cài đặt, dù bạn nên làm như thế một cách cẩn thận.

Hoặc, nếu bạn định bao tồn một phân vùng đã có trên đĩa cứng, không thay đổi nó trong khi cài đặt, bạn có thể tải về tập tin hd-media/initrd.gz và hạt nhân tương ứng, cũng sao chép một ảnh ISO đĩa CD/DVD vào ổ đĩa (kiểm tra xem tập tin tên kết thúc bằng .iso). Trình cài đặt thì có khả năng khởi động từ ổ đĩa và cài đặt từ ảnh đĩa CD/DVD mà không cần chạy mạng.

Đối với LILO, bạn sẽ cần phải cấu hình hai thứ chủ yếu trong tập tin /etc/lilo.conf:

  • để tải trình cài đặt initrd.gz vào lúc khởi động;

  • làm cho hạt nhân vmlinuz dùng đĩa RAM như là phân vùng gốc.

Đây là một lời thí dụ /etc/lilo.conf:

image=/boot/newinstall/vmlinuz
       label=newinstall
       initrd=/boot/newinstall/initrd.gz

Để tìm chi tiết, xem trang hướng dẫn (man) initrd(4)lilo.conf(5). Bây giờ hãy chạy lilo rồi khởi động lại.

Thủ tục đối với GRUB1 cũng hơi tương tự. Hãy tìm tập tin menu.lst nằm trong thư mục /boot/grub/ (đôi khi nằm trong thư mục /boot/boot/grub/), và thêm một mục nhập cho trình cài đặt, chẳng hạn (giả sử là /boot nằm trong phân vùng thứ nhất của đĩa thứ nhất trong hệ thống):

title  New Install
root   (hd0,0)
kernel /boot/newinstall/vmlinuz
initrd /boot/newinstall/initrd.gz

Thủ tục đối với GRUB2 cũng hơi tương tự. Hãy tìm tập tin grub.cfg thay vì menu.lst. Thí dụ:

menuentry 'New Install' {
insmod part_msdos
insmod ext2
set root='(hd0,msdos1)'
linux /boot/newinstall/vmlinuz
initrd /boot/newinstall/initrd.gz
}

Kể từ thời điểm này, không nên có sự khác nhau giữa tiến trình GRUBLILO.

5.1.5. Khởi động từ thanh bộ nhớ USB

Let's assume you have prepared everything from Phần 3.6.2, “Chọn thiết bị khởi động” and Phần 4.3, “Chuẩn bị tập tin để khởi động thanh bộ nhớ USB”. Now just plug your USB stick into some free USB connector and reboot the computer. The system should boot up, and unless you have used the flexible way to build the stick and not enabled it, you should be presented with the boot: prompt. Here you can enter optional boot arguments, or just hit Enter.

5.1.6. Khởi động bằng TFTP

Booting from the network requires that you have a network connection and a TFTP network boot server (and probably also a DHCP, RARP, or BOOTP server for automatic network configuration).

The server-side setup to support network booting is described in Phần 4.5, “Chuẩn bị tập tin để khởi động qua mạng TFTP”.

Có vài cách khác nhau để khởi động qua TFTP trên i386.

5.1.6.1. NIC hay bo mạch chủ có hỗ trợ PXE

Có lẽ thẻ giao diện mạng (NIC) hay bo mạch chủ của bạn cung cấp chức năng khởi động kiểu PXE. Nó là cách thực hiện lại chức năng khởi động qua TFTP của công ty Intel™. Nếu máy bạn có chức năng này, có lẽ bạn có khả năng cấu hình BIOS để khởi động qua mạng.

5.1.6.2. NIC với BootROM mạng

Có lẽ thẻ giao diện mạng (NIC) của bạn cung cấp chức năng khởi động qua TFTP.

5.1.6.3. Etherboot

Dự án Etherboot cung cấp đĩa mềm khởi động, ngay cả bộ nhớ ROM khởi động, mà khởi động được qua TFTP.

5.1.7. Màn hình khởi động

Khi trình cài đặt khởi động, bạn nên thấy một màn hình đồ họa thân thiện hiển thị biểu hình Debian và một trình đơn:

Trình đơn khởi động trình cài đặt

Cài đặt
Cài đặt đồ họa
Tùy chọn Cấp cao       >
Trợ giúp

Bấm phím ENTER để khởi động, hoặc TAB để chỉnh sửa một mục nhập trình đơn

Phụ thuộc vào phương pháp cài đặt đang dùng, sự chọn « Cài đặt đồ họa » có thể không sẵn sàng.

For a normal installation, select either the Graphical install or the Install entry — using either the arrow keys on your keyboard or by typing the first (highlighted) letter — and press Enter to boot the installer. The Graphical install entry is already selected by default.

Mục nhập Tùy chọn Cấp cao cho truy cập đến một trình đơn thứ hai mà cho phép khởi động trình cài đặt trong chế độ cấp cao, trong chế độ cứu và để tự động cài đặt.

Nếu bạn muốn hay cần thêm tham số khởi động cho hoặc trình cài đặt hoặc hạt nhân, hãy bấm phím Tab. Cú nhấn này sẽ hiển thị câu lệnh khởi động mặc định cho trình đơn đã chọn, và cho phép bạn thêm tùy chọn bổ sung. Các màn hình trợ giúp (xem dưới) liệt kê một số tùy chọn có thể dùng mà thường dùng. Bấm phím Enter để khởi động trình cài đặt với các tùy chọn của bạn; còn cú bấm Esc sẽ trở về trình đơn khởi động và hủy bước thay đổi nào bạn đã làm.

Choosing the Help entry will result in the first help screen being displayed which gives an overview of all available help screens. To return to the boot menu after the help screens have been displayed, type 'menu' at the boot prompt and press Enter. All help screens have a boot prompt at which the boot command can be typed:

Press F1 for the help index, or ENTER to boot:

At this boot prompt you can either just press Enter to boot the installer with default options or enter a specific boot command and, optionally, boot parameters. A number of boot parameters which might be useful can be found on the various help screens. If you do add any parameters to the boot command line, be sure to first type the boot method (the default is install) and a space before the first parameter (e.g., install fb=false).

Ghi chú

Giả sử bàn phím có một bố trí tiếng Anh Mỹ mặc định vào thời điểm đó. Có nghĩa là nếu bàn phím của bạn dùng một bố trí khác (đặc trưng cho ngôn ngữ, v.d. tiếng Việt) thì các ký tự xuất hiện trên màn hình có thể khác với ký tự mong đợi khi bạn gõ tham số. Bách kho trực tuyến tự do Wikipedia cung cấp một giản đồ của bố trí bàn phím tiếng Anh Mỹ đến đó bạn có thể tham chiếu để tìm những phím đúng cần gõ.

Ghi chú

Nếu bạn đang sử dụng một hệ thống đã cấu hình BIOS để dùng bàn giao tiếp nối tiếp, thì có lẽ bạn không thấy được màn hình giới thiệu đồ họa đầu tiên một khi khởi động trình cài đặt; có lẽ bạn ngay cả không thấy được trình đơn khởi động. Trường hợp này cũng có thể xảy ra nếu bạn đang cài đặt hệ thống qua một thiết bị quản lý từ xa mà cung cấp một giao diện văn bản vào bàn giao tiếp VGA. Các thiết bị như vậy bao gồm bàn giao tiếp văn bản của integrated Lights Out (iLO) của công ty Compaq, và Integrated Remote Assistant (IRA) của công ty HP.

Để đi vòng màn hình khởi động đồ họa, bạn có thể hoặc bấm phím Esc để thấy một dấu nhắc khởi động kiểu văn bản, hoặc bấm phím H rồi Enter để chọn tùy chọn Trợ giúp được diễn tả trên. Sau đó thì các cú nhấn phím của bạn nên xuất hiện phía sau dấu nhắc. Để ngăn cản trình cài đặt sử dụng vùng đệm khung cho phần còn lại của tiến trình cài đặt, bạn cũng cần phải thêm tham số fb=false vào dấu nhắc khởi động, như được diễn tả trong đoạn văn trợ giúp.

5.1.8. The Graphical Installer

The graphical version of the installer is only available for a limited number of architectures, including 64-bit PC. The functionality of the graphical installer is essentially the same as that of the text-based installer as it basically uses the same programs, but with a different frontend.

Although the functionality is identical, the graphical installer still has a few significant advantages. The main advantage is that it supports more languages, namely those that use a character set that cannot be displayed with the text-based newt frontend. It also has a few usability advantages such as the option to use a mouse, and in some cases several questions can be displayed on a single screen.

The graphical installer is available with all CD images and with the hd-media installation method. To boot the graphical installer simply select the relevant option from the boot menu. Expert and rescue mode for the graphical installer can be selected from the Advanced options menu. The previously used boot methods installgui, expertgui and rescuegui can still be used from the boot prompt which is shown after selecting the Help option in the boot menu.

There is also a graphical installer image that can be netbooted. And there is a special mini ISO image[5], which is mainly useful for testing.

Just as with the text-based installer it is possible to add boot parameters when starting the graphical installer.

Ghi chú

The graphical installer requires significantly more memory to run than the text-based installer: 229MB. If insufficient memory is available, it will automatically fall back to the text-based newt frontend.

If the amount of memory in your system is below 112MB, the graphical installer may fail to boot at all while booting the text-based installer would still work. Using the text-based installer is recommended for systems with little available memory.



[5] The mini ISO image can be downloaded from a Debian mirror as described in Phần 4.2, “Tải tập tin xuống máy nhân bản Debian”. Look for netboot/gtk/mini.iso.